Tuần trước, một bản tin từ Crypto Briefing khiến tôi dừng lại giữa lúc đang kiểm tra mã nguồn của một cầu nối cross-chain. Iran và Oman sắp công bố một hành lang vận chuyển tạm thời qua eo biển Hormuz. Với một kẻ làm giao thức như tôi, đây không phải tin dầu mỏ. Đây là một bài test về cách thị trường định giá những lời hứa có thể thu hồi.
Hormuz kiểm soát khoảng 20% lượng dầu thô vận chuyển bằng đường biển trên toàn cầu. Nhưng với ngành tài sản số, nó kiểm soát một thứ còn quan trọng hơn: kỳ vọng về lạm phát, lãi suất và thanh khoản toàn cầu. Khi eo biển này bị đe dọa, giá dầu tăng, CPI dai dẳng, và các ngân hàng trung ương buộc phải giữ lãi suất cao. Khi lãi suất cao, stablecoin sinh lời hấp dẫn hơn, vốn rời khỏi tài sản rủi ro, và thanh khoản trong hệ sinh thái phi tập trung co lại. Vì vậy, một bản tin về hành lang vận chuyển ở Hormuz, dù được đăng trên một trang tin về tiền mã hóa, cũng có khả năng làm rung chuyển bảng thanh khoản của mọi pool thanh khoản trên chuỗi.
Điểm tôi quan tâm nhất không nằm ở việc hành lang đó có thật hay không. Nó nằm ở chữ "tạm thời". Trong hợp đồng thông minh, từ khóa "temporary" là một trong những thứ nguy hiểm nhất. Một quyền được đánh dấu là tạm thời có nghĩa là nó có thể bị thu hồi, có thể bị thay đổi tham số, và không có gì đảm bảo rằng trạng thái hiện tại sẽ tồn tại cho đến khối tiếp theo. Một hành lang tạm thời qua Hormuz cũng vậy – nó là một function có kill switch, được vận hành bởi một nhóm nhỏ các bên nắm quyền kiểm soát, không phải bởi một giao thức bất biến.
Nhìn từ lớp dữ liệu, tôi thấy một sự tương đồng kỹ lạ với kiến trúc sequencer của các giải pháp Layer 2 hiện nay. Các sequencer tập trung cũng là những hành lang tạm thời: chúng xử lý giao dịch nhanh, giảm chi phí, tạo trải nghiệm mượt mà. Nhưng chúng hoạt động tốt cho đến khi operator quyết định đóng hành lang đó lại – vì lý do bảo trì, vì lý do tuân thủ, hoặc vì một lý do chính trị nào đó. Năm 2022, chúng ta đã chứng kiến nhiều sequencer ngừng hoạt động khi thị trường biến động mạnh, và người dùng không còn cách nào để thoát vị thế ngoài việc chờ đợi. Bài toán của Hormuz cũng giống hệt: bạn có thể đi qua hành lang, nhưng bạn không kiểm soát được cánh cổng.
Core insight của tôi là: hành lang tạm thời này không phải một cơ chế giảm rủi ro, mà là một cơ chế định giá lại rủi ro.
Khi một eo biển quan trọng nhất thế giới được quản lý bằng một tuyên bố chung thay vì một hiệp ước đa phương, thị trường sẽ không còn dựa vào các mô hình xác suất lịch sử để tính phí bảo hiểm. Thay vào đó, nó sẽ dựa vào tín hiệu tức thời từ các bên liên quan. Điều này làm thay đổi bản chất của niềm tin: niềm tin không còn được neo vào cấu trúc pháp lý, mà được neo vào nhận thức về thiện chí của hai quốc gia. Và thiện chí thì có thể thay đổi bất kỳ lúc nào.
Tôi nhớ lại một đợt kiểm tra hợp đồng thông minh hồi năm 2021, khi tôi phát hiện một lỗi trong cơ chế burn của một bộ sưu tập NFT. Hợp đồng cho phép người dùng đốt token để nhận lại một phần phí, nhưng điều kiện để kích hoạt quyền burn đó lại nằm trong một biến có thể thay đổi bởi owner. Nhìn bề ngoài, đó là một tính năng minh bạch. Nhìn sâu vào bytecode, đó là một chiếc bẫy: owner có thể thay đổi điều kiện burn để chặn tất cả yêu cầu rút tiền. Hành lang Hormuz cũng có cấu trúc tương tự. Việc công bố "hành lang tạm thời" mà không kèm theo cơ chế xác minh độc lập, không có sự tham gia của tổ chức hàng hải quốc tế, và không có lộ trình cho thấy nó giống như một biến isBurnable được set về true bởi một hàm chỉ có owner mới gọi được.
Điều trái khoáy ở đây là hầu hết các nhà giao dịch sẽ coi đây là một tín hiệu hòa dịu, và họ có lý do để làm vậy. Giá dầu có thể giảm nhẹ, phí bảo hiểm rủi ro chiến tranh có thể hạ, và vốn có thể chảy ngược vào các tài sản rủi ro. Nhưng nếu nhìn vào lịch sử những tuyên bố tương tự, tôi nhận ra rằng một hành lang tạm thời được công bố qua một trang tin phi chính thống, không kèm theo chi tiết kỹ thuật, và không có xác nhận từ bên thứ ba độc lập thường là một quả bóng thăm dò. Nó cho phép chính phủ các nước liên quan đo lường phản ứng của thị trường mà không cần cam kết chính thức. Nếu phản ứng tích cực, họ sẽ xác nhận với nhiều chi tiết hơn. Nếu phản ứng tiêu cực, họ có thể phủ nhận và nói rằng đây chỉ là tin đồn. Cơ chế này rất giống với cách các đội ngũ dự án crypto phát hành token trước khi có sản phẩm: bạn tung ra một thông báo, quan sát dòng tiền vào, rồi quyết định có nên tiếp tục xây dựng hay không.
Tôi từng phân tích cơ chế Data Availability Sampling của Celestia vào năm 2022, và học được rằng một hệ thống thực sự phi tập trung phải có khả năng xác minh trạng thái ngay tại thời điểm diễn ra giao dịch, chứ không phải dựa trên lời hứa của một bên trung gian. Khi tôi áp dụng nguyên tắc này vào địa chính trị, tôi nhận thấy sự vắng mặt của bất kỳ cơ chế xác minh nào trong sáng kiến hành lang Hormuz là một điểm đỏ rõ ràng. Một hành lang thực sự cần có hệ thống nhận dạng tàu thuyền, kênh liên lạc khẩn cấp giữa hải quân hai nước, và quy trình xử lý sự cố rõ ràng. Không có những thứ đó thì đây chỉ là một dòng tweet dưới dạng chính sách đối ngoại.
Mổ xẻ cơ chế, thứ thực sự đang được giao dịch không phải là dầu, mà là sự không chắc chắn. Một hành lang tạm thời tạo ra cảm giác an toàn mà không loại bỏ nguồn gốc của sự bất an. Nó giống như một mạng lưới thanh khoản trên chuỗi có một nhà tạo lập thị trường chính: mọi thứ có vẻ mượt mà cho đến khi nhà tạo lập thị trường rút thanh khoản. Rồi bạn mới phát hiện ra rằng độ trượt giá thực sự lớn đến mức nào.
Trong ba ngày qua, tôi đã theo dõi biến động của giá dầu Brent và giá Bitcoin để tìm kiếm mối tương quan. Không có sự thay đổi đáng kể nào, điều này cho thấy thị trường đang xử lý thông tin này một cách thận trọng. Điều đó có nghĩa là không ai tin rằng hành lang này sẽ tồn tại lâu dài, hoặc thậm chí được hiện thực hóa. Nhưng nếu nó được xác nhận với các chi tiết cụ thể, tôi sẽ chú ý đến một chỉ số khác: phí bảo hiểm chiến tranh cho tàu chở dầu. Nếu mức phí này giảm từ 0,5% xuống 0,2% giá trị thân tàu, các nhà giao dịch nên coi đây là một tín hiệu xác thực. Nếu không, chúng ta đang chứng kiến một chiến dịch truyền thông, không phải một sáng kiến ngoại giao.

Câu chuyện về Hormuz đặt ra một câu hỏi lớn cho ngành blockchain: liệu chúng ta có đang xây dựng các hệ thống chịu được sự không chắc chắn, hay chỉ đang tạo ra những chiếc hành lang tạm thời của riêng mình? Tôi không tin rằng một giao thức có thể thay thế hoàn toàn vai trò của các chính phủ trong việc quản lý rủi ro địa chính trị. Nhưng tôi tin rằng blockchain có một vai trò độc nhất: đó là tạo ra một bản ghi bất biến về sự khác biệt giữa những gì các bên công bố và những gì họ thực sự thực thi. Khi Iran và Oman công bố hành lang tạm thời, sẽ không có oracle nào đủ khôn ngoan để xác minh tính xác thực của lời hứa đó. Nhưng nếu có một hợp đồng thông minh được thiết kế để đo lường thời gian tồn tại của hành lang và ghi lại các sự kiện vi phạm, thị trường sẽ có một nguồn dữ liệu đáng tin cậy hơn là những bài đăng trên các trang tin tức tiền mã hóa.
Điều tôi tin là xu hướng chúng ta sẽ thấy trong những năm tới không phải là các quốc gia chấp nhận tiền mã hóa toàn diện. Mà là các quốc gia bắt đầu sử dụng các giao thức phi tập trung như một cơ sở hạ tầng song song để quản lý các tình huống thiếu niềm tin. Hành lang Hormuz, nếu có thật, sẽ chỉ là một thỏa thuận xã giao. Nhưng nếu nó được ghi lại trên một sổ cái công khai, với các điều kiện rõ ràng và cơ chế thoát hiểm, nó có thể trở thành một tiêu chuẩn mới cho sự hợp tác quốc tế. Vấn đề không phải là ai kiểm soát hành lang. Vấn đề là ai kiểm soát công tắc tắt – và liệu công tắc đó có được mã hóa thành một quy trình có thể kiểm toán hay không.